Wednesday, July 25, 2012

Giai "Nobel Thiên Văn Học" về tay Nữ Giáo Sư gốc Việt

Giải “Nobel Thiên văn học” về tay nữ giáo sư gốc Việt
Photobucket

Dr. Jane Luu ( Lưu Lệ Hằng )



Thienvanhoc.org – Cuối tháng năm vừa qua, tại Hồng Kông, Quỹ Shaw đã xướng danh người đạt Giải Shaw Thiên văn học 2012 là Giáo sư Lưu Lệ Hằng về những đóng góp của cô trong việc định danh “các vật thể ngoài Hải Vương tinh” (Trans-Neptunian Objects), viết tắt là TNOs.

Lưu Lệ Hằng sinh năm 1963 ở miền nam Việt Nam, lớn lên tại Sài Gòn. Cha bà là một thông dịch viên làm việc cho quân đội Hoa Kỳ. Ông đã dạy bà học tiếng Pháp khi còn nhỏ và nó trở thành nền tảng cho quá trình học tiếng Anh của bà sau này.

Trong biến cố 30 tháng 4 năm 1975, Lệ Hằng cùng gia đình di tản khỏi Việt Nam và tị nạn tại Hoa Kỳ.

Cô học trò gốc Việt sau đó giành được học bổng ngành vật lý tại Đại học Stanford. Sau khi tốt nghiệp vào năm 1984, cô tân cử nhân đã dành mùa hè thảnh thơi của mình để bắt đầu học lên cao học tại Đại học California – Berkeley, cùng lúc đó cô làm việc cho Phòng thí nghiệm sức đẩy phản lực (Jet Propulsion Laboratory) ở Pasadena.

Thích thú trước những bức tường treo đầy hình ảnh các hành tinh do tàu nghiên cứu không gian Voyager gửi về, Lưu Lệ Hằng quyết định theo đuổi ngành thiên thể học. Sau khi hoàn thành cao học tại Berkeley, cô lấy bằng tiến sĩ ở MIT. Trong thời gian ở MIT, cô cùng với nghiên cứu sinh David Jewitt làm đề tài Khảo sát các vật thể di chuyển chậm (Slow-Moving Objects) ngoài hệ Mặt trời. Sau đó Lưu Lệ Hằng tham gia giảng dạy tại Đại học Harvard rồi chuyển sang Đại học Leiden ở Hà Lan.

Khi quay về Mỹ, cô tạm xả hơi chuyên ngành thiên văn quan sát của mình và công tác tại Phòng thí nghiệm Lincoln của MIT cho đến nay. Cô hiện đang nghiên cứu các giải pháp công nghệ cho vấn đề an ninh quốc gia của Hoa Kỳ. Vào năm 1991, Hiệp hội Thiên văn Hoa Kỳ đã trao giải Annie J. Cannon Award Thiên văn học cho cô.

Để ghi nhận công lao của cô trong việc khám phá ra hơn 30 tiểu hành tinh, người ta lấy tên cô đặt cho tiểu hành tinh 5430 Luu.


Năm nay – 2012 quả là năm của người phụ nữ gốc Việt khi cái tên Lưu Lệ Hằng được xướng danh ở cả hai giải thưởng thiên văn học danh giá nhất thế giới :

Nữ chủ nhân của “Giải Nobel Thiên văn học” thế giới

Trước đó, vào tháng 3 vừa qua, tại thủ đô Oslo của Na Uy, Quỹ Kavli cũng đã công bố Giải Kavli năm 2012 cho bảy nhà khoa học tiên phong thuộc ba lĩnh vực nghiên cứu hiện đại: vật lý thiên văn học (astrophysics), khoa học nano (nanoscience) và thần kinh học (neuroscience). Giáo sư Lưu Lệ Hằng, nhà thiên văn học Mỹ gốc Việt đã là một trong những chủ nhân của giải Kavli thiên văn học năm nay. Giải Kavli được khởi xướng từ năm 2008 bởi nhà khoa học người Na Uy Fred Kavli và Quỹ Kavli của ông. Một hội đồng chuyên gia quốc tế đến từ nhiều viện nghiên cứu khác nhau trên thế giới sẽ lựa chọn và hỗ trợ cho các công trình nghiên cứu đoạt giải. Mỗi lĩnh vực nghiên cứu sẽ có 1 triệu đô la Mỹ tiền thưởng, chia đều cho các đồng chủ nhân giải thưởng.

Cuối tháng năm vừa qua, tại Hồng Kông, Quỹ Shaw đã xướng danh người đạt Giải Shaw Thiên văn học 2012 là Giáo sư Lưu Lệ Hằng về những đóng góp của cô trong việc định danh “các vật thể ngoài Hải Vương tinh” (Trans-Neptunian Objects), viết tắt là TNOs.   .

Giải Shaw danh giá được ví như là “Giải Nobel của châu Á”, được bắt đầu trao tặng từ năm 2004. Giải trao cho các thành tựu nghiên cứu khoa học mới nhất trong các lĩnh vực: thiên văn học, khoa học sự sống và y học, toán học. Điểm đặc biệt là giải chỉ được trao cho các nhà khoa học còn sống (cho đến lúc ra quyết định) giống như Giải Nobel. Giải Shaw mỗi năm gồm 3 triệu đô la Mỹ, chia đều cho ba lĩnh vực khoa học được xét thưởng. Ngài Run Run Shaw, ông trùm truyền thông Hồng Kông năm nay 105 tuổi là người bảo trợ cho giải thưởng này.

Năm 1996, nhà báo khoa học Marcia Bartusiak đã viết về hành trình tuyệt vời của GS Lưu Lệ Hằng khi cô còn giảng dạy tại Đại học Harvard. Vì sao lại là “hành trình tuyệt vời”? Sau khi tốt nghiệp tiến sĩ, cô là Học giả "hậu tiến sĩ" Hubble (Hubble Postdoctoral Fellowship) – phần thưởng danh giá nhất cho các nhà nghiên cứu trẻ trình độ hậu tiến sĩ.
 

Khám phá của giáo sư Jane Lưu về sự hiện hữu của dãy Kuiper mà trước đó bị hoài nghi là rất quan trọng, mang tính chất cách mạng, bởi nó làm thay đổi nhận thức thế nào là hành tinh, về sự hình thành Thái Dương hệ, về thế giới vật chất xung quanh và ngoại vi Thái Dương hệ.

 Khám phá của cô gái người Việt được đánh giá là đi vào lịch sử của những phát hiện lớn của nhân loại.
~~~~~~~~~~~~~
Đọc thêm: - http://www.thienvanhoc.org/forum/showthread.php?t=11163
                 - http://imagiverse.org/interviews/janeluu/jane_luu_21_03_03.htm


Wednesday, July 18, 2012

Họp Mặt Cựu SV VN Đại Học SOSU ngày 7-7-12




Quản Giáo là một trong những người tỵ nạn VN được Đại Học Southeastern Oklahoma State University -viết tắt là SOSU-, tại Durant, tiểu bang Oklahoma bảo trợ ngay từ khi họ đến Fort Chaffee, tiểu bang Arkansas vào năm 1975 sau ngày Miền Nam VN đổi chủ.

Sau 4 năm ăn học, họ là thế hệ SVVN đầu tiên tót nghiệp trường này vào năm 1979.


Đây là lần thứ hai, các cựu SVVN SOSU tổ chức họp mặt tại California và cũng là lần đầu tiên có sự hiện diện của đương kim Viện Trưởng SOSU, GS TS Larry Minks và phu nhân, cùng ông Kyle Stafford, Giám đốc Phát triển Sự Vụ.


Buổi dạ tiệc thật đầm ấm, vui nhộn qua tài điều khiển khéo léo và dí dỏm của Quản trò Tôn Thất Tuấn (80-84), Trung Tá Lục Quân Hoa Kỳ, Cố Vấn Quân Sự cho Nha Đông Á và Thái Bình Dương của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ tại Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn.

Hôm đó CB phải đi dự đám cưới ái nữ thi/ca sĩ Hà Phương, người MC cho đám cưới CB gần 3 tháng trước nên đến trễ lúc sắp kết thúc buổi họp mặt.


Photobucket

Ban Tổ Chức Ngày Họp Mặt
Quang Hiển (75-79), Quản Giáo (75-79), Quỳnh-Giao (75-79), Minh-Quốc (75-79), Kim-Khánh (75-79), và Quốc-Anh (80-84) 



Photobucket

CẮT BÁNH
Quang-Hiển (75-79), Trần-Hoàng (CT BCH 81-84), Quốc-Anh (80-84), Quản-Giáo (75-79), GS Viện-Trưởng

Friday, July 13, 2012

Cách Xử Thế Của Người Xưa

Cách xử thế của người xưa

Rinh về từ http://barbie2002.multiply.com/reviews/item/432
Cảm ơn Tịnh Ngọc thí chủ.




Kinh Phật có câu “tướng tự tâm sanh” tức dáng vẻ, dung mạo bên ngoài của mình từ nội tâm ở bên trong lưu xuất. Nếu trong lòng vui vẻ, thảnh thơi thì nét mặt sẽ tươi tắn, lạc quan; nếu lo nghĩ, buồn bực thì sẽ mang gương mặt ão não, u sầu; nếu muốn bố thí, giúp đỡ người khác thì biểu lộ phong thái tự tin, độ lượng, bao dung; nếu khởi tâm tham lam, muốn trộm cắp thì cử chỉ lấm lét, dò xét v.v… Nên để chỉnh đốn hành vi, ngôn ngữ phải uốn nắn từ nơi cái tâm khi hành vi và ngôn ngữ mới manh nha, chưa kịp hình thành.

Có câu chuyện kể rằng: “Xưa, có một chú học trò được dịp lên phố chơi. Nhằm ngày chợ phiên, một vụ mất cắp xảy ra tại quán trọ, chú học trò liền bị quan huyện bắt nhốt vì người ta ngờ chú là thủ phạm.

Sau khi trải qua những thủ tục tra hỏi phiền phức, quan huyện tìm ra thủ phạm, chú học trò được thả về.

Khi về làng, gặp thầy và bè bạn, chú nhỏ tức tưởi kể lại sự việc, bộc bạch nỗi hàm oan của mình.

Vị thầy im lặng nghe xong câu chuyện, nghiêm nghị ra lệnh phạt đệ tử mười roi. Ðương sự rất ngạc nhiên nhưng không dám cãi lời thầy, líu ríu leo lên bộ ván nằm chờ trận đòn mà lòng hoang mang vô kể.

Các bạn chú thấy thế, ngạc nhiên thưa:

- Thưa thầy, trò này vô tội sao lại bị đòn?

Vị thầy từ tốn giải thích:

- Đành rằng trò ấy vô tội, nhưng tại sao giữa phố chợ đông đảo chỉ mình nó bị tình nghi là kẻ cắp? Ta phạt cái tội nó có bộ vó của thằng ăn cắp để cho người ta nghi ngờ. Nếu trò ấy không chỉnh đốn tư cách lại, ta e rằng nó sẽ bị hàm oan nhiều lần nữa”.

Những nỗi hàm oan xảy ra cho mọi người khá nhiều. Thường thì ta tìm cách minh oan hay truy lùng cho ra kẻ đã nhẫn tâm vu oan giáng họa cho mình mà ít ai nghĩ rằng một trong những nguyên nhân quan trọng của hàm oan là chính mình. Vì thế, để chia sẻ hàm oan với học trò, vị thầy đã tặng đệ tử đến mười roi.

Mới hay, người xưa dạy người rất chú trọng đến cái tâm, lấy tâm làm nền tảng để giáo dục, uốn nắn con người. Hình thức bên ngoài cũng rất quan trọng nhưng nội tâm mới là yếu tố quyết định. Giáo dục một con người trở nên hoàn thiện phải từ nơi chính tâm sau đó mới tu thân, tề gia, trị quốc và bình thiên hạ. Cây có ngay thì bóng mới thẳng, phải đào tạo thế hệ kế thừa có tâm hồn trong sáng và cao thượng mới có thể mong hình thành nên nhân cách lớn, làm nguyên khí của quốc gia, nhân tài cho đất nước.

Ngày nay, chúng ta tự hào với nền giáo dục hiện đại, tiên tiến nhưng quá chú trọng đến khoa học thực tiễn và xem nhẹ thậm chí lãng quên giáo dục đạo đức và tâm linh. Một khi thước đo giá trị của xã hội nghiêng nặng về sự thành đạt các sự nghiệp vật chất có tính hình thức bên ngoài hơn là những giá trị nhân văn, đạo đức và tâm linh thì đất nước có nguy cơ đối diện với nhiều hiểm họa.

Vị thầy đồ quê mùa ngày xưa đã cung hiến cho chúng ta một phương thức giáo dục “phạt cái tội nó có bộ vó của thằng ăn cắp” nhằm uốn nắn cái tâm, chỉnh đốn tư cách của học trò phải chăng là điều mà các nhà giáo dục hiện đại cần suy gẫm và học hỏi!

Quảng Tánh

Wednesday, July 4, 2012

ĐÔNG QUỲNH KHOE SẮC

Đông-Quỳnh ghé thăm
nhân Lễ Độc-Lập Hoa-Kỳ


Photobucket


Thường thì nàng ra hoa vào mùa Đông;
nhưng California gần nguyên tháng 6 năm nay khá lạnh về đem,
nên nàng đã khai hoa nở nhụy vào Lê Độc Lập



Photobucket

Ngày July 1st

***************************



Photobucket

Đêm July 2nd

Photobucket



Photobucket



Photobucket



Photobucket


**********************************


Photobucket

Đêm July 3rd rạng July 4th

Wednesday, August 17, 2011

Ngọc Kỳ Lân - Vô Ưu - Sa La

Ngọc Kỳ Lân – Couroupita guianensis

Vô Ưu – Saraca asoca
(nơi Phật đản sanh) ??
Sa La
– Shorea Robusta
(nơi Phật nhập Niết Bàn) ??
http://thieulang.free.fr/blog/
Ngọc Kỳ Lân
Cannon ball-tree
 Arbre à bombes
 
Photobucket
H1. Cây Ngọc kỳ lân trong khu du lịch Bình Quới.
(ảnh TL)


Tên khoa học: Couroupita guianensis
Họ: Lecythidaceae - Lộc vừng, Chiếc

Cây còn có tên Cannon ball-tree, Arbres à bombes, nguồn gốc ở Nam Mỹ, (xem Guides des plantes tropicales – J.G. Rohwer, trang 96).

Trong quyển Botanica, (Encyclopédie de botanique et d’horticulture – Konemann -1997 , trang 261), mô tả có ba loại Couroupita, trong đó chỉ có C. Guianensis là hoa có mùi thơm.

Ở Việt Nam, cộng đồng Phật giáo, gọi Couroupita là cây Sala, Sala Song Thọ, hay Vô Ưu, thường được trồng trong các chùa.

Căn cứ trên hình dáng hoa, người miền Bắc thường hay gọi là Hàm Rồng. Giáo sư Phạm Hoàng Hộ, gọi là cây Đầu Lân (Cây cỏ Miền Nam, 1970, quyển 1, trang 917). Giới sưu tập cây cảnh thường sử dụng tên Ngọc Kỳ Lân.

Bên Campuchia, trồng nhiều cây này, có thể tìm thấy trong thành phố Siemreap, trong Hoàng Cung, và phía sau Chùa Vàng Chùa Bạc, thấy ghi tên là Shorea Robusta Roxb (!?)
 

Photobucket

H2. Cây Ngọc Kỳ Lân, 
BỊ GHI LẦM
tên thực vật là
Shorea robusta (do ông Roxburgh tìm ra)
TÊN THẬT PHẢI LÀ
 Couroupita guianensis
ở phía sau Chùa Vàng Chùa Bạc, Campuchia
(ảnh TL)


[ Trong khi trên « actioncambodgefronton.org »,
Có đăng hình, kèm lời giới thiệu :

Une fleur, que vous pourrez admirer dans le jardin
du palais royal de Phnom Penh :
Couroupita guianensis

(Một loài hoa mà bạn có thể ngắm trong
Ngự Uyễn Hoàng Cung Phnom Penh :
Couroupita guinensis)
 
Photobucket

http://www.actioncambodgefronton.org/Interessant.html ]

Couroupita guianensis, loại Đại thụ hạng trung bình, thuộc vùng nhiệt đới, có thể cao đến 35 m, thân thẳng, tàn lá tròn.  Hoa lưỡng trắc, cành hoa mọc từ trong thân, thòng dài tận dưới gốc, nở quanh năm, có mùi thơm huyền bí, nhất là về đêm cho đến sáng sớm.
Photobucket

H 3a. Hoa Ngọc Kỳ Lân
 
Photobucket

H 3b. Trái Ngọc Kỳ Lân

Trái, kích cở như quả đạn đại bác thời xưa, do đó có tên gọi Cannon ball-tree, Arbre à bombes hay Arbre à boulets de canon.

Nhân giống, thông thường bằng gieo hạt.
 
Photobucket

H 4a. Bên trong trái Ngọc Kỳ Lân
 
Photobucket

H 4b. Hạt Ngọc Kỳ Lân

Theo ghi nhận của một nghệ nhân ở Chợ Lách Bến Tre, từ khi trồng cây con, cao khoảng 30 cm, cây phát hoa sau bốn năm, trong điều kiện chăm sóc bình thường.

Ngọc Kỳ Lân thay lá vào đầu mùa mưa, và trổ hoa quanh năm.

Cũng có thể xử lý cho Ngọc Kỳ Lân ra hoa theo ý muốn. Từ khi xử lý tới lúc có hoa là khoảng một tháng rưỡi.
 

Photobucket

H 5. Cây con
 
Photobucket

H6. Cây Ngọc Kỳ Lân 5 năm tuổi trồng tại
Chợ Lách, Bến Tre

Có nhiều tài liệu nói về hoa Vô ưu, Uư đàm, Sa la, trong truyền thuyết kinh điển Phật giáo, cho thấy có sự liên quan mơ hồ về các tên gọi khác nhau của cây Couroupita guianensis : Ngọc kỳ lân, Sala, Vô ưu, Shorea robusta.

Tương truyền, Thái tử Shidarta ra đời dưới gốc cây Vô Ưu, và nhập Niết Bàn tại rừng Sala đang trổ hoa..

Tác giả Nguyễn Tường Bách trong du ký Mùi Hương Trầm, và Ông Nhất Hạnh trong quyển Đường Xưa Mây Trắng có nói đến cây Sala bên Ấn Độ.
Xin trích dẫn :

Trong “Đường xưa mây trắng”:

«  Khi Bụt và các vị khất sĩ tới được rừng Sala thì trời đã xế chiều.

Bụt bảo thầy Ananda soạn chỗ nằm cho Bụt giữa hai cây Sala, rồi Bụt nằm xuống trong thế sư tử tọa, đầu hướng về phương Bắc. Các vị khất sĩ chia nhau ngồi bao quanh Bụt.

Họ biết nội trong đêm nay, tại rừng Sala nầy, Bụt sẽ nhập niết bàn.

Bụt đưa mắt nhìn rừng cây rồi nói với Ananda:

- Nầy Ananda, thầy hãy nhìn xem, bây giờ đâu phải là mùa hoa, mà những cây Sala này đang nở hoa trắng xóa. (trang 561)

Trong Mùi Hương Trầm :

« … Tôi đã đi qua miền rừng núi Bihar và Bắc Ấn, đó là rừng già Ấn Độ mà loại cây thường gặp là Sala, … » (trang 92) …

« … Tôi từ Gorakhpur đến Câu-thi-na vào một chiều mưa, rừng cây Sala ( tên khoa học là Shorea robusta, chú thích của tác giả ) ngày nay vẫn còn, lá xanh ngắt đẫm nước trông như ngọc… » (trang 122)

«
…Về phía tây bắc thành phố độ 3,4 dậm vượt qua sông Ajitavati, về phía bờ tây không xa lắm, chúng tôi đến một khu rừng có cây Sala. Cây Sala, như cây Huk, vỏ cây màu trắng xanh, lá lóng lánh và trơn dịu …» (trang 123)

«… Hởi các cây Sala này, theo kinh điển thì tiền bối của các ngươi cũng đã chứng kiến phút nhập diệt của Phật ….» (trang 126).

Trên bình diện thực vật học, theo Dictionnaire classique d’histoire naturelle - Vol 15, cây Shorea Robusta, thường gọi Sal, Shal, Sala, có nguồn gốc bên Ấn độ, thuộc họ Dipterocarpaceae, do nhà thực vật Roxburgh tìm ra, nên mang tên Shorea Robusta Roxb.
 

Photobucket

H7. Chi tiết thực vật học cây Shorea robusta
nguồn fr.wikipedia.org

Photobucket

H8. Shorea robusta Roxb

Photobucket

H9. Hoa và lá Shorea robusta


Như vậy,
cây Ngọc Kỳ Lân,

Couroupita guianensis- họ Lecythidaceae,

cây Sala,

Shorea Robusta – họ Dipterocarpaceae,

hai cây hoàn toàn khác nhau.
 
Photobucket

H10a. Couroupita Guianensis

Photobucket

H10b. Shorea robusta

Trong du ký Mùi Hương Trầm nói trên, ông Nguyễn Tường Bách có đến tận rừng cây Sala, và ông chú thích, Sala tên khoa học là Shorea Robusta.  Điều này, phù hợp với truyền thuyết khi Phật nhập niết bàn, « cây Sala nở hoa trắng xóa », mà Ông Nhất Hạnh viết trong Đường Xưa Mây Trắng.

Do đó, cây Ngọc Kỳ Lân, Đầu Lân, hoặc Hàm Rồng, có tên thực vật là Couroupita guianensis, hoàn toàn khác với cây truyền thuyết Sala, hay Vô Ưu.

Photobucket

H11. Ngọc Kỳ Lân trong khu du lịch Bình Quới
(ảnh TL)

Dù sao, thật không phí công, của, và không gì ấn tượng bằng, có một cây Ngọc Kỳ Lân trước nhà hay trong vườn cảnh.
ThieuLang. 
Photobucket
http://www.tropilab.com/couroupita.html


COUROUPITA GUIANENSIS - CANNONBALL TREE

Common name
Cannonball tree, boskalebas, coco de mono, abricó de macaco, castanha de macaco, cuia de macaco, macacarecuia, sala tree, kanonenkugelbaum.

Family

Lecythidaceae (Brazil-nut family).
Overview
A large deciduous tropical tree 90' tall and indigenous to the Amazon rainforest.The leaves, up to 6" long, are simple with serrate margin; it flowers in racemes; the yellow, reddish and pink flowers are stunning fragrant.

There are large 3" to 5" waxy aromatic smelling, pink and dark-red flowers, growing directly on the bark of the trunk (cauliflory).


Pollination is done by bees and bats.


The tree bears, also directly on the trunk and main branches, large globose woody fruits; they look like big rusty cannonballs hanging in clusters, like balls on a string.


The fruit contains small seeds in a white, unpleasant smelling edible jelly, which are exposed when the upper half of the fruit goes off like a cover.


The long dangling fruity branches give the tree an unkempt appearance.


The hard shells are used to make containers and utensils.

Medicinal applications
The fruit pulp, bark and flowers are used for medicinal applications and have antimicrobial- and fungal activity.
Hardiness
USDA zone 9B - 11.

Propagation

Seeds.
Due to recalcitrant nature of the seeds, they have a short viable life, cannot be dried well and cannot withstand low temperatures.

Culture

Full sun / partial shade, moist soil, needs high humidity.
Very susceptible to frost. Plant in frost free locations.

Dưới đây là ảnh rinh về từ

http://biengbiec.multiply.com/journal/item/638/638

Photobucket

Photobucket

Photobucket



Bạn ta với hoa Ngọc Kỳ Lân


Photobucket

***************************************************************

CÂY VÔ ƯU - ASHOKA


Photobucket
Ashoka tree

Photobucket
Ashoka flower bunch


Conservation status
Vulnerable (IUCN 2.3)Scientific classification
Kingdom:    PlantaeOrder:    FabalesFamily:    FabaceaeGenus:    SaracaSpecies:    S. asocaBinomial name:    Saraca asoca (Roxb.) WildeSynonyms:    Saraca indica LinnaeusSaraca asoca (the Ashoka tree; lit., "sorrow-less") is a plant belonging to the Caesalpiniaceae subfamily of the legume family. It is an important tree in the cultural traditions of the Indian Subcontinent and adjacent areas.Description
Photobucket

Leaves & flowers in Kolkata, West Bengal, India.
The Ashoka is a rain-forest tree. Its original distribution was in the central areas of the Deccan plateau, as well as the middle section of the Western Ghats in the western coastal zone of the Indian Subcontinent.


Photobucket

The Ashoka is prized for its beautiful foliage and fragrant flowers. It is a very handsome, small, erect evergreen tree, with deep green leaves growing in dense clusters.


Its flowering season is around February to April. The Ashoka flowers come in heavy, lush bunches. They are bright orange-yellow in color, turning red before wilting.

There are a few varieties of the Ashoka tree. One variety is larger and highly spreading. The columnar varieties are common in cultivation.

The origin of the name Saraca indica is doubtful and it can hardly be claimed to be an improvement on the old one of Jonesia asoka, given by Indian botanists to honour Sir W. Jones " the most enlightened of the sons of men," who himself expressed the wish that the tree should retain the old Sanskrit name Ashoka.

Indigenous to India, Burma and Malaya, it is an erect tree, small and evergreen, with a smooth, grey-brown bark. The crown is compact and shapely.

Flowers are usually to be seen throughout the year, but it is in January and February that the profusion of orange and scarlet clusters turns the tree into an object of startling beauty. Pinned closely on to every branch and twig, these clusters consist of numerous, small, long-tubed flowers which open out into four oval lobes. Yellow when young, they become orange then crimson with age and from the effect of the sun's rays. From a ring at the top of each tube spread several long, half-white, half-crimson, stamens which give an hairy appearance to the flower clusters. In strong contrast to these fiery blooms is the deep-green, shiny foliage. The foot-long leaves each have four, five or six pairs of long, wavy-edged, leaflets. Young leaves are soft, red and limp and remain pendent even after attaining full size.
The straight or scimitar shaped pods, stiff, leathery, broad and about eight inches long, are red and fleshy before ripening.Religious significancePhotobucket

Queen Māyā giving birth to the Buddha

In Buddhist tradition, it is said that Queen Māyā of Sakya gave birth to Gautama Buddha under a sal tree or an asoka tree in a garden in Lumbini, in south Nepal, while grasping its branch. When this event took place, Queen Māyā was en route to birth him in his grandfather's kingdom.

Sa La - Shorea robusta
http://en.wikipedia.org/wiki/Shorea_robusta
 

Conservation status Least Concern (IUCN 2.3)Scientific classification
Kingdom:    PlantaeOrder:    MalvalesFamily:    DipterocarpaceaeGenus:    ShoreaSpecies:    S. robustaBinomial name:   Shorea robusta


Shorea robusta, also known as sal or shala tree, is a species of tree belonging to the Dipterocarpaceae family.Distribution and description 
Photobucket
New leaves with flower buds at Jayanti in Buxa Tiger Reserve in Jalpaiguri district of West Bengal, India.
Photobucket
This tree is native to southern Asia, ranging south of the Himalaya, from Myanmar in the east to Nepal, India and Bangladesh. In Nepal, it is found mostly in the terai region from east to west, especially, in the Churia range (the Shivalik Hill Churia Range) in the subtropical climate zone. There are many protected areas, such as Chitwan National Park, Bardiya National Park Bardia National Park, Shukla Phat National Parks, etc., where there are dense forests of huge sal trees. It is also found in the lower belt of the hilly region and inner terai. In India, it extends from Assam, Bengal, Orissa and Jharkhand west to the Shivalik Hills in Haryana, east of the Yamuna. The range also extends through the Eastern Ghats and to the eastern Vindhya and Satpura ranges of central India. It is often the dominant tree in the forests where it occurs.
Photobucket

Sal is moderate to slow growing, and can attain heights of 30 to 35 m and a trunk diameter of up to 2-2.5 m. The leaves are 10–25 cm long and 5–15 cm broad. In wetter areas, it is evergreen; in drier areas, it is dry-season deciduous, shedding most of the leaves in between February to April, leafing out again in April and May.

Sunday, August 14, 2011

Vu Lan Nhớ Bố

Bố ,


Vu Lan Bồn là mùa Báo Hiếu … và người ta thường nhắc về Mẹ hơn là về Cha

… nhưng 21 năm trước đây Bố đã cao đăng Phật Độ Quốc đúng ngày Rằm tháng Bảy !!!

Đối với con , Bố là người quá ít nói dẫu rằng luôn mỉm cười ngoại trừ những lúc Bố nghiêm mặt vì chúng con phạm lỗi gì đó . “Thái độ” đó của Bố có lẽ do Bố sinh ra trong một gia đình quá nghiêm khắc .

Nhưng những việc làm âm thầm của Bó luôn là kim chỉ nam cho cuộc đời con .

Bố là con trai duy nhất một Thẩm phán ở Hải Phòng nên đã được Ông nội gửi nội trú với các Linh Mục Giòng Tên bên Pháp , nói là để tránh có thể bị bọn lính viễn đông Sénégalais bắt cóc bán cũng như tránh bọn gian bắt cóc để làm áp lực với Ông nội trong các vụ án . Nhưng thực tế là vì Ông nội từng làm thầy Thông cho Vua Khải Định trong chuyến Ngài đi Pháp dự Hội chợ thuộc địa ở Marseille , nên Ông nội hiểu rằng muốn chống họ thì phải hiểu họ một cách triệt để .

Sau 16 năm trường từ lớp 6 cho đến ngày Bố về nước trong quân phục Trung-úy Quân Y Sĩ Pháp thì Ông Nội đã là Tam Phẩm , Quan Lộc tự Khanh , Chánh án Hải-Phòng .

Lập gia đình khi mới hồi hương để nối dõi tông đường , Bố đã xin giải ngũ , viện cớ là con trai duy nhất , nhưng trên thực tế là để đóng góp vào công việc cách mạng chống Pháp qua việc lập trường chống nạn mù chữ và trường “ y tá ” cứu thương ngay trong đồn điền Tĩnh Hải của gia đình .

Nạn đói năm Ât Dậu nhân một buổi đạp xe đạp ra làng đến trường day học , Bố đã dừng xe cho tiền một đứa trẻ đang mò tôm trong cái lạch bên đường … nhưng khi chiều về thì bé này nằm vật bên đường , hai hàm răng kẹp một con tép .. bàn tay còn nắm chặt đồng bạc … bé đã chết trước khi mua được miếng ăn !

Về đến đồn điền Bố đã thưa việc này với Ông nội và ngỏ ý xin phát chẩn cho người cơ nhỡ cùng chôn cất những xác chết vô thừa nhận… Ông nội đã dạy “đồn điền này , cơ ngơi này nay là của cậu mợ , mọi việc tùy cậu mợ quyết định”. Thế là ngày hôm sau Bố Mẹ đã cho lực điền mang các bảng thông báo việc phát chẩn và chỉ dẫn đường đến đồn điền niên yết tại các làng kế cận .

Một nhóm chuyên việc dùng xe bò đi lượm xác chết về chôn trong đồn điền , ban đầu còn có hòm đàng hoàng … sau vì người chết nhiều quá nên chỉ bó vào chiếu mà chôn !!!

Một nhóm thì đào khoai sọ và khoai lang -rửa sạch , để nguyên vỏ- để nấu nhuyễn với cám thành cháo đặc thật bổ dưỡng .  Bắt đầu với 1 nồi “năm mươi” (50 tô “kìm” cháo , ăn đủ no cho 1 lực điền), sau lên đến 4, 5 nồi mỗi ngày .

Những người đến được Mẹ và bốn người giúp việc múc cháo đưa tận tay , đây là lúc để Mẹ có cơ hội giám định tình trạng sức khỏe và nếu thấy cần thì bảo họ đến chỗ Bố “làm việc” để Bố chẩn bệnh và cho thuốc .

Vì có một vài người ăn “khỏe” đã xếp hang nhận cháo lần thứ 2 trong 1 ngày và bị người giúp việc nhận ra , Mẹ đã phải khuyên họ không nên tham ăn mà bị bội thực , rồi Bố đã phải cho rào 1 khu đất rộng có nhiều cây xum xuê lá bên hồ sen để họ ngồi ăn , tắm rửa và nghỉ ngơi cho đến khi mọi người ăn xong mới mở cửa cho họ ra về .

Ròng rã gần 3 tháng thì họ đã khỏe và cũng là lúc mùa màng đến phiên thâu gặt thì mới hết người dẫn nhau đến xin ăn nhờ .

Khi Ngài Ngự trở về nhận làm Quốc Trưởng và lập quân đội Quốc Gia thì Bố đã được mời tham gia với tư cách Đại úy Y Sĩ Trưởng Bảo Chính Đoàn Bắc Việt .

Bố đã thanh tra , tiếp thu và hợp thức hóa các đơn vị Tỉnh Đoàn Bảo Chính Đoàn Bắc Việt , hai tỉnh Phát Diệm và Ninh Bình phối hợp từ các lực lượng dân quân và người Việt đi lính Pháp .

Cũng trong thời gian này anh Đông , Chánh Án Saigon gửi thơ nhờ Bố Mẹ giúp phái đoàn Cao Đài truyền bá Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ ra Bắc . Bố Mẹ đã hoan hỹ cúng dường 5 mẫu đất đầu cầu và vật liệu để họ xây dựng Tòa Thánh Cao Đài đầu tiên ở miền Bắc , cùng thực phẩm lương khô và nông cụ để họ sống cho tới vụ gặt lúa đầu .

Nghe đâu Thánh Thất đã bị phá huỷ hoàn toàn sau 1954 , các tín đồ sống chết ra sao không ai biết .

Phải công nhận Đạo Cao Đài thật trọng ân nghĩa ; khi gia đinh vào đến sân bay Tân Sơn Nhứt thì đã có 1 Trung đội quân đội Cao Đài được phái tới để bảo vệ chúng ta .  Thì ra vị chức sắc ở ngoài Bắc đã viết thư bảo trước , và họ đã chờ gia đình chúng ta hằng tuần rồi .  Bố đã phải cảm ơn họ , cho họ biết là đã có gia đình anh Đông là Chánh Án Saigon lo rồi thì họ mới chịu ra về .

Vào Nam, tuy mất hết tài sản; nhưng Bố được Ngài Ngự bổ nhiệm làm Quân Y Trưởng Ngự Lâm Quân, cũng như ký giấy cấp đứt căn Villa Margot trên Dalat cho gia đình.  Chúng con đi học ở Petit Lycée.  Mọi việc coi như tạm yên cho đến ngày Ngô Đình Diệm và bè lũ truất phế Ngài Ngự trong 1 cuôc “trưng cầu dân ý” đầy gian lận (605,025 phiếu cho y ở Saigon, trong khi tại đây chỉ có 450,000 cử trị!), và đòi giáng cấp những người thân của cựu Hoàng .  Bố không chịu và xin giải ngủ thi "được" NĐD chấp nhận hai tay ; và bọn chúng đầy Bố lên hết BMT , PLeiku rồi Kontum do đi đâu Bố cũng được dân tình quý mến và vì Bố theo trường phái Thiên Nhiên [ Homeopath / naturopath ] ít ra toa thuốc mà chỉ hướng dẫn bệnh nhân về thực dưỡng để họ tự trị bệnh và gìn giữ sưc khỏe ….. hằng năm chỉ về Saigon 1 lần , vừa thăm gia đình , vừa lấy vài ngàn viên thuốc -bọn chúng không thể chấm mút- cho nên đến năm 1960 NĐD và bè lũ lại muốn đày Bố đi nơi khỉ ho cò gáy khác .

Bố đã xé lệnh thuyên chuyển và điện thoại về Bộ Y Tế là Bố từ chức , bỏ ngành Y .

Về đến Saigon Bố được các bạn giúp tìm việc làm chuyên viên Nguyên Tử Lực Cuộc [Dalat] , chuyên viên cải thiện giống lúa bằng phóng xạ nguyên tử -Bộ Canh Nông-, Thanh Tra Diệt Trừ Sốt Rét -Bộ Y Tế-, đến Thanh Tra chất lượng sản phẩm từ nông thủy sản -Bộ KinhTế-.

Bố đã nghỉ việc ở Nguyên Tử Lực Cuộc và Bộ Canh-Nông vì không chấp nhận lối làm việc quan liêu , bất công đối với những tài năng không chịu nghe lời Đảng Cần Lao của Ngô Đình Nhu . 

Bố cũng xin nghỉ việc thanh tra ở Bộ Y Tế và Kinh Tế vì không chịu phạt vạ vô lý để ăn hối lộ về chia cho cấp trên . Thế là Bố về hưu non …

Và từ đó Bố đã ngày ngày mặc bộ đồ Bà Ba trắng , vui thú “điền viên” trong cái vườn bằng lỗ mũi của nhà .

Bác PQĐán khi làm Phó Thủ Tướng có nhã ý mời Bố ra làm Bộ trưởng Y Tế , nhưng Bố đã tâm sự với bác rằng “ Đồng chí Nguyễn Tường Tam đã bị chúng bức tử , Anh và tôi … chỉ là 2 người … không thể trong sạch hóa 1 cơ chế lúc tay sai Vatican lúc tay sai Mỹ !”

Ra nước ngoài , khi miền Nam đứt phim , Bố luôn dặn chúng con phải cố học thật nhiều , thật cao nhưng phải dùng kiến thức thuận Đạo Làm Người , sống thanh bần , dạy dỗ con cháu về nguồn gốc , văn hóa và truyền thống Con Rồng Cháu Tiên để sau này chúng có thể đóng góp phần nào vào việc hưng phục quê cha đất tổ . 

Lời Bố dặn con nguyện khắc ghi trong lòng ; và thưa Bố , các cháu của Bố đều nói tiếng Việt rành rõi , về thăm quê nhà các cháu đã làm các cô , các em bên ngoại chúng giật mình vì nói tiếng Bắc 1954 một trăm phần trăm !

Vu Lan năm nay con cố moi óc viếc lại vài nét về Bố để lưu lại cho các cháu , chắc hẳn không khỏi thiếu sót đôi điều , con hy vọng anh Lựu và các em sẽ bổ túc sau .

21 năm rồi mà như ngày hôm qua … Kính dâng bố bài thơ của một cô em trong Đại Gia Đình Hưóng Đạo Việt Nam của con .

Wednesday, May 4, 2011

Xuân Quỳnh khoe sắc

Photobucket

Xuân Quỳnh "Hậu Quỳnh"




Photobucket

Xuân Quỳnh "Tiểu Hồng"



Photobucket

Xuân Quỳnh "Hoàng Yến"



Photobucket

Xuân Quỳnh "Red Hot"